Một lý do tôi chọn làm việc ở KDDI Research Inc. là vì tôi có thể tiếp tục làm nghiên cứu giống như ở trường đại học. Sau bốn tháng làm việc, tôi nhận ra một số điểm khác biệt giữa việc làm nghiên cứu trong trường đại học và làm nghiên cứu trong công ty. Điểm khác biệt lớn nhất có lẽ là về thời gian tôi có thể dảnh ra để làm nghiên cứu. Trong thời gian học PhD, khoảng 80% thời gian của tôi là làm research. Thực ra làm nghiên cứu là nhiệm vụ duy nhất tôi cần làm. Trong công ty thì khác, ngoài việc làm nghiên cứu, tôi còn tham gia từ 1-2 dự án khác của công ty. Vì vậy, tôi chỉ có thể dành ra từ 40-50% thời gian để làm nghiên cứu. Thời gian không phải là điểm hạn chế duy nhất. Trong công ty, vấn đề về bảo mật thông tin luôn được đặt lên hàng đầu, đặc biệt là các thông tin liên quan đến người dùng. Do đó, rất nhiều các thủ tục, giấy tờ cần được hoàn thành trước khi tôi có thể sử dụng dữ liệu. Ở công ty của tôi, sẽ mất khoảng 1-2 tuần để hoàn thành các thủ tục cần thiết trước khi có thể bắt tay vào sử dụng dữ liệu trong việc làm nghiên cứu hay các dự án. Ở trong trường đại học, tôi có thể dễ dàng thảo luận với các bạn trong lab hay giáo sư về những điểm mình chưa rõ hoặc xin lời khuyên khi gặp các vấn đề mới. Việc thảo luận này từng giúp tôi tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đặc biệt là khi bắt đầu các topics mới. Ở trong công ty thì điều này khá là khó thực hiện. Lý do là dù trong một nhóm, lịch trình của mỗi thành viên lại rất khác nhau, và thời gian ở công ty thì bị giới hạn. Do vậy, tôi phải giành nhiều thời gian hơn để tự tìm hiểu thông tin cũng như tự giải quyết các vấn đề mới. Trong nhóm của tôi thì anh nhóm trưởng là người bận rộn nhất, ngoài việc tham gia rất nhiều dự án (theo tôi biết thì khoảng 5-6), anh còn đang theo học tiến sỹ ở trường đại học, và phải làm nghiên cứu như tôi. Do vậy, anh chỉ có thể thảo luận về mặt ý tưởng và dựa vào các 派遣社員 để thực hiện giúp mình. Điểm bất lợi của cách làm này là nếu những 派遣社員 có ít kinh nghiệm làm nghiên cứu thì tiến độ công việc sẽ khó mà được đảm bảo. Điểm khác biệt tiếp theo là làm nghiên cứu ở công ty thường phải gắn liền với bằng sáng chế (patent). Nếu bạn có kết quả hay ý tưởng mới thì trước khi công bố ở các hội nghị hay tạp chí, bạn phải đăng ký bằng sáng chế cho ý tưởng. Quá trình đăng ký bằng sáng chế thường kéo dài khoảng 2 tháng. Ngoài ra, việc có bằng sáng chế là mục tiêu hàng năm mà các nhân viên như tôi phải có trong bảng mục tiêu công việc hàng năm. Sẽ là thuận lợi nhất nếu kết quả nghiên cứu có thể viết được bằng sáng chế. Tuy nhiên, không phải kết quả nghiên cứu nào cũng có thể dùng để viết patent. Do vậy, việc chọn câu hỏi nghiên cứu trong môi trường công ty cũng khác hơn so với khi tôi còn đang ở trường đại học.
Trên đây là những điểm khác biệt của việc làm nghiên cứu ở trong công ty so với trong trường đại học. Phần tới tôi sẽ bàn về bằng sáng chế và vai trò của nó đối với các công ty như KDDI.
Welcome to my personal blog. I write to share what I learned, experienced, and created.
Saturday, February 1, 2020
Monday, November 4, 2019
Nhật ký đi làm
Ngày đầu đi làm, sau khi nhận thẻ nhân viên và điện thoại từ phòng hành chính, tôi được dẫn lên phòng làm việc ở tầng 18 của toà nhà Garden Air Tower, ở quận Chyoda, Tokyo. Văn phòng làm việc khác xa so với những gì tôi đã nghĩ về một trung tâm nghiên cứu. Đó là một văn phòng lớn gồm nhiều dãy bàn kê song song. Ở đầu mỗi dãy là bàn làm việc của quản lý. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là không hề có vách ngăn giữa các dãy hay giữa có bàn làm việc. Bàn làm việc của tôi nằm ở chính giữa, bên trái tôi là một nhân viên người Trung đã làm việc được 4 năm. Bên phải là các 派遣社員, các nhân viên đến từ các công ty khác để trợ giúp công việc cho chúng tôi. Họ đều là những nhân viên đã khá lớn tuổi, chắc phải trên 50. Ngồi đối diện tôi là một người Nhật, chuyên về các hệ thống quản lý dữ liệu. Nhóm tôi còn có hai người Nhật nữa.
Ngồi vào bàn, đang cài đặt máy tính thì tôi được thông báo vào họp. Đây là một trong hai buổi họp hàng tuần của nhóm tôi. Nội dung chính là cập nhật lại tình hình làm việc của nhóm. Vì là hôm đầu tiên tôi đến nên quản lý của tôi cũng tham gia.
Buổi trưa được nghỉ một tiếng, tôi đi ăn trưa ở một cửa hàng mỳ ở gần công ty. Ăn uống xong, tôi quay lại làm việc. Giờ làm việc là từ 9h sáng đến 5 rưỡi chiều, nhưng đến giờ mà tôi không thấy ai về cả. Làm việc tiếp đến 8h thì công ty phát loa thông báo là mọi người sắp xếp công việc rồi về trước 8h. Lúc này mọi người mới dọn dẹp đồ đạc rồi ra về. Tôi cũng thu dọn hành lý, chào những người đang còn ở lại, rồi đi bộ về phòng trọ cách công ty khoảng 2Km.
Tuần đầu tiên tôi chủ yếu ngồi học về các hệ thống của công ty, đăng ký tài khoản, và mua thiết bị làm việc. Những việc này cậu bạn người Trung giúp tôi rất nhiệt tình. Nhìn vào lịch làm việc của anh trưởng nhóm, tôi tự hỏi không biết anh lấy thời gian đâu mà làm nghiên cứu nữa. Mỗi ngày anh đều phải tham gia 4 đến 5 cuộc họp, mỗi cái phải một tiếng. Tôi chỉ thỉnh thoảng thấy anh ngồi ở bàn làm việc. Các nhân viên như tôi ít hơn, một tuần chỉ có từ 3 đến 4 cuộc họp. Còn đến mức quản lý thì khỏi phải nói, đi họp cả ngày. Ở công ty tôi, thứ 4 là ノー残業デー, tức là ngày không làm thêm. Ngày này, đến 5 rưỡi chiều là sẽ có loa thông báo bảo mọi người về. Thực tế là tôi không thấy ai về lúc 5 rưỡi chiều cả, vẫn đến 8h thì mọi người mới ra về.
Hàng ngày tôi về đến nhà khoảng 9h tối, ăn uống rồi tắm rửa dọn dẹp xong cũng đến 10 rưỡi, 11h tối. Những người đi làm xa thì chắc còn muộn hơn. Thế này tôi càng hiểu rõ là ở Nhật, nếu lập gia đình và có con, thì một trong hai người phải ở nhà. Vì nếu không thì không có ai chăm con cả. Trên đường đi làm về tôi gặp rất nhiều bà mẹ đón con bằng xe đạp, thỉnh thoảng còn thấy con đạp xe theo sau, chắc là đứa lớn hơn.
Những khó khăn luôn xuất hiện khi chuyển môi trường làm việc. Phần tới tôi sẽ mô tả rõ hơn về làm nghiên cứu ở KDDI Research.
Ngồi vào bàn, đang cài đặt máy tính thì tôi được thông báo vào họp. Đây là một trong hai buổi họp hàng tuần của nhóm tôi. Nội dung chính là cập nhật lại tình hình làm việc của nhóm. Vì là hôm đầu tiên tôi đến nên quản lý của tôi cũng tham gia.
Buổi trưa được nghỉ một tiếng, tôi đi ăn trưa ở một cửa hàng mỳ ở gần công ty. Ăn uống xong, tôi quay lại làm việc. Giờ làm việc là từ 9h sáng đến 5 rưỡi chiều, nhưng đến giờ mà tôi không thấy ai về cả. Làm việc tiếp đến 8h thì công ty phát loa thông báo là mọi người sắp xếp công việc rồi về trước 8h. Lúc này mọi người mới dọn dẹp đồ đạc rồi ra về. Tôi cũng thu dọn hành lý, chào những người đang còn ở lại, rồi đi bộ về phòng trọ cách công ty khoảng 2Km.
Tuần đầu tiên tôi chủ yếu ngồi học về các hệ thống của công ty, đăng ký tài khoản, và mua thiết bị làm việc. Những việc này cậu bạn người Trung giúp tôi rất nhiệt tình. Nhìn vào lịch làm việc của anh trưởng nhóm, tôi tự hỏi không biết anh lấy thời gian đâu mà làm nghiên cứu nữa. Mỗi ngày anh đều phải tham gia 4 đến 5 cuộc họp, mỗi cái phải một tiếng. Tôi chỉ thỉnh thoảng thấy anh ngồi ở bàn làm việc. Các nhân viên như tôi ít hơn, một tuần chỉ có từ 3 đến 4 cuộc họp. Còn đến mức quản lý thì khỏi phải nói, đi họp cả ngày. Ở công ty tôi, thứ 4 là ノー残業デー, tức là ngày không làm thêm. Ngày này, đến 5 rưỡi chiều là sẽ có loa thông báo bảo mọi người về. Thực tế là tôi không thấy ai về lúc 5 rưỡi chiều cả, vẫn đến 8h thì mọi người mới ra về.
Hàng ngày tôi về đến nhà khoảng 9h tối, ăn uống rồi tắm rửa dọn dẹp xong cũng đến 10 rưỡi, 11h tối. Những người đi làm xa thì chắc còn muộn hơn. Thế này tôi càng hiểu rõ là ở Nhật, nếu lập gia đình và có con, thì một trong hai người phải ở nhà. Vì nếu không thì không có ai chăm con cả. Trên đường đi làm về tôi gặp rất nhiều bà mẹ đón con bằng xe đạp, thỉnh thoảng còn thấy con đạp xe theo sau, chắc là đứa lớn hơn.
Những khó khăn luôn xuất hiện khi chuyển môi trường làm việc. Phần tới tôi sẽ mô tả rõ hơn về làm nghiên cứu ở KDDI Research.
Sunday, October 13, 2019
New conference paper
Our latest work on adaptation for cloud gaming under constrained resources has been accepted for presentation at 26TH INTERNATIONAL CONFERENCE ON MULTIMEDIA MODELING. (Link)
Cloud gaming has emerged as a new trend in the gaming industry, bringing a lot of benefits to both players and service providers. In cloud gaming, it is essential to ensure low end-to-end delay for good
use experience. Hence, sufficient computational resources must be available at the client in order to process video in a timely manner. However, thin clients such as mobile devices generally have limited computation capabilities. Thus, the available computational resources may be insufficient to support the client, such as in case of low battery. In this paper, we propose a new adaptation framework for resource-constrained cloud gaming clients. The proposed framework combines frame skipping at the server and frame discarding at the client according to available computational resources of the client. Experiment results show that the proposed framework can significantly improve video quality given a delay constraint compared to conventional methods.
Cloud gaming has emerged as a new trend in the gaming industry, bringing a lot of benefits to both players and service providers. In cloud gaming, it is essential to ensure low end-to-end delay for good
use experience. Hence, sufficient computational resources must be available at the client in order to process video in a timely manner. However, thin clients such as mobile devices generally have limited computation capabilities. Thus, the available computational resources may be insufficient to support the client, such as in case of low battery. In this paper, we propose a new adaptation framework for resource-constrained cloud gaming clients. The proposed framework combines frame skipping at the server and frame discarding at the client according to available computational resources of the client. Experiment results show that the proposed framework can significantly improve video quality given a delay constraint compared to conventional methods.
Malaysia du ký
Tôi đến Malaysia vào buổi chiều cuối tháng 9. Sau khi ra khỏi
sân bay quốc tế Kuala Lumpur (KLIA), tôi mua sim điện thoại và đi tàu về khách
sạn. So với sân bay Suvarnabhumi ở Bangkok thì sân bay này không đông đúc bằng.
Thủ tục hải quan ở đây cũng không có gì phức tạp vì tôi có hộ chiếu Việt Nam. Mất
khoảng 1 tiếng để đi tàu từ sân bay về trung tâm Kuala
Lumpur. Lúc đang loay hoay mua vé tàu điện ngầm để đi tiếp, có một ông già khoảng
tầm 60 tuổi người địa phương ra hỏi là đi đâu bằng tiếng Trung. Mình lắc đầu,
thế là ông chuyển sang tiếng Anh. Cho ông xem thông tin điểm đến thì ông bảo là
mua nhầm vé rồi, nhưng có thể đến quản lý ở điểm ra cuối cùng để trả thêm tiền.
Ông còn dặn rất kỹ là phải đi tàu số mấy để đúng hướng.
Tôi cảm ơn ông rồi xuống tàu điện ngầm. Hệ thống tàu điện ngầm
ở Malay rất mới và hiện đại. Các bảng chỉ dẫn hay thông báo trên tàu đều có tiếng
Anh nên không sợ bị xuống nhầm. Lên khỏi mặt đất, điều đầu tiên tôi nghe thấy
là đọc kinh vọng ra từ một nhà thờ hồi giáo rất lớn gần đấy. Trên đường thì phần
lớn là xe ô tô, chỉ có một số ít xe máy. Đến gần khách sạn, hai tòa tháp đôi
Petronat cao lừng lững và sáng bừng hiện ra trước mặt, quả thực là rất ấn tượng.
Sau khi nhận phòng khách sạn, tôi ra ngay phố ẩm thực Jalan Alor ở gần đấy ăn tối.
Không khí ở Jalan Alor rất náo nhiệt lúc tôi đến, các hàng quán thay nhau mời
khách. Ở đầu phố là các quán bán rất nhiều các loại hoa quả nhiệt đới, xoài,
mít, khế, dưa hấu, và tất nhiên là không thể không nhận ra mùi đặc trưng của sầu
riêng. Ở giữa phố là các quán bán đồ ăn, các món ăn cũng không khác bên Việt
nam mình nhiều, từ các món xào, rán, rồi hải sản, chủ yếu để phục vụ khách du lịch.
Các biển hiệu thì đều viết bằng tiếng Trung, cùng với đèn lồng đỏ chăng dọc các
lối đi, với tôi đây giống như là phố Trung hoa hơn J Sau khi đi một vòng, chúng
tôi chọn một quán có vẻ đông khách, vào gọi một đĩa cơm rang và một bát phở.
Đĩa cơm rang ăn rất hợp nhưng bát "phở" thì tôi không thích mùi của nó lắm. Bánh
phở giống bánh cuốn bên mình, nhưng nước phở thì đặc và ngậy, vì có thịt lợn
băm ở trong.
Ngày thứ hai ở Kuala Lumpur, tôi ra một cửa hàng bình dân ở
gần khách sạn ăn sáng. Thực đơn của quán này có các món mỳ xào và đồ ăn theo kiểu
Ấn. Tôi gọi một món tên là Apam balik, một loại bánh rán ăn kèm với cà ri. Bánh
được rán mỏng như giấy và cuộn tròn lại. Tôi thích đồ rán nên rất khoái món
này. Cà ri có ba vị để thưởng thức. Đã xác định trước là chủ yếu khám phá ẩm thực,
tôi gọi Uber để đi đến một địa điểm nổi tiếng với món cà ri đầu cá. Quán này ở
khá xa trung tâm, lúc tôi đến đấy thì mọi người đang xếp hàng dài. Đến nơi tôi
vào xếp hàng thì nhìn thấy mọi người ở đây đang ăn nhưng không thấy ai ăn đầu
cá cả, mọi người chủ yếu ăn gà rán hoặc cá rán với cơm và cà ri, những người bản
địa thì họ ăn bằng tay. Xếp hàng khoảng 15 phút, đến nhìn tận nơi chỗ bán thì
chả thấy đầu cá đâu cả, thế là đành đi về. Hơi tiếc một chút L Đến tối, tôi đi đến chỗ
tòa tháp đôi Petronat. Dọc đường đi là rất nhiều các nhà cao tầng và các trung
tâm mua sắm lớn, các cửa hàng bán lẻ Seven Eleven. Ngay dưới chân của tòa tháp
đôi cũng là một trung tâm mua sắm, bán đủ các loại hàng hóa. Có rất nhiều
các cửa hàng của các hãng thời trang, nước hoa, đồng hồ nổi tiếng thế giới,
nhưng chả mấy khi thấy có khách vào. Tòa tháp đôi nhìn gần thật hoành tráng,
sáng chói. Rất đông du khách và người địa phương tập trung ở đây để chụp ảnh. Từ
những người chụp ảnh bằng điện thoại, cho đến những người có cả nhiếp ảnh gia
đi cùng. Một không khí náo nhiệt giữa trung tâm Kuala Lumpur. Tôi quyết định đi
xe buýt để về khách sạn xem thế nào. Ra đứng đợi ở trạm bus khoảng 10 phút thì
thấy xe đến, nhưng xe không dừng mà đi thẳng luôn. Ngẩn tò te không hiểu thế
nào, chắc mẩm là xe này nó về bến hay đại loại gì đấy, nên thôi đợi xe sau vậy.
Khoảng 10 phút sau xe lại đến, và cũng
như lần trước, xe đi thẳng. Thế là quyết định bỏ cuộc, gọi uber rồi về khách sạn.
Ngày thứ ba, chúng tôi đi đến một quán ăn tên là Restoran Rebung Dato Chef Ismail,
nghe nói quán này bán những đồ ăn đặc trưng của Malay. Xuống xe thì thấy
biển hiệu nhưng không thấy cửa vào đâu, chỗ vào thì chỉ là chỗ đỗ ô tô. Đi lòng
vòng một lúc thì mới phát hiện ra là quán này nó ở tầng 5, mà chỗ lên thang máy
lại ở trong chỗ đỗ ô tô. Lên đến nơi thì thấy rất nhiều thức ăn đã được dọn
theo kiểu buffet. Trên bàn lại còn ghi tên, hóa ra chỗ này cần đặt trước. Hỏi
nhân viên ở đó thì họ dẫn ra bàn ở phía ngoài dành cho khách không đặt trước.
Thức ăn ở đây được nấu rất ngon và đa dạng, từ các loại bún, đến cơm, cá rán,
cari, đồ tráng miệng. Lần trước ở Thái tôi gặp được món xôi xoài thì lần này ở
Malay tôi lại được ăn một món mới mà rất ấn tượng: Chè nếp cẩm. Nếp nấu mềm,
chè ngọt vừa phải, cộng với vị thơm của nước dừa. Ở Việt Nam tôi chưa được ăn món này bao giờ. Ngoài ra, bún ở đây nấu cũng
rất ngon. Dù trời hơi nóng và ở xa trung tâm, chuyến đi quán Shef Mali này đúng
không bõ công tý nào. Buổi chiều, chúng tôi đi thăm bảo tàng quốc gia Malaysia.
Lịch sử hình thành cũng như phát triển của đất nước này được trình bày rất dễ
hiểu, từ thời cổ đại cho đến hiện đại. Nó cũng giải thích cho tôi về sự đa dạng
văn hóa ở đất nước này mà tôi vẫn bắt gặp trên đường phố. Malaysia với eo biển
Mallaca là một trong những eo biển tấp nập nhất thế giới, thương nhân từ khắp
nơi trên thế giới đều đi qua đây. Rất nhiều người trong số đó ở lại sinh sống,
tạo nên một nền văn hóa đa dạng từ người Mã, Người gốc Trung, gốc Ấn.
Sunday, October 6, 2019
Nhật ký xin việc (kỳ 2)
Với sinh viên tốt nghiệp tiến sỹ thì sau khi tốt nghiệp sẽ
có 4 hướng xin việc chính:
1. Giáo sư ở trường đại học
Sau khi nhận được bằng PhD, bạn có thể apply vào làm giáo sư
ở các trường đại học. Thông thường yêu cầu khi tuyển giáo sư khá cao so với các
sinh viên mới tốt nghiệp, đặc biệt là yêu cầu về kinh nghiệm làm việc cũng như
giảng dạy. Hồ sơ đăng ký ngoài sơ yếu lý lịch, thành tích nghiên cứu, thì thường
sẽ yêu cầu viết một bản kế hoạch về nghiên cứu (research plan) và giảng dạy
(teching plan). Một số trường còn yêu cầu nộp đề cương của các môn học bạn đã từng
dạy. Quá trình tuyển dụng sẽ bao gồm vòng hồ sơ và phỏng vấn. Mình đã từng nộp
hồ sơ vào trường Waseda nhưng không qua được vòng hồ sơ. Theo mình thì việc được
nhận vào làm giáo sư ngay sau khi tốt nghiệp ở thời điểm hiện tại là cực kỳ
khó. Tuy nhiên, các bạn nên thử vì cũng không mất gì nhiều J. Thông tin tuyển dụng các bạn có thể tìm thấy
trên các trang web như Linkedin, JREC (chuyên jobs cho PhD), ResearchGate, etc.
2. Postdoc
Đây là một hướng mà nhiều tiến sỹ sau khi tốt nghiệp lựa chọn,
đặc biệt là những người muốn phát triển trong môi trường academic. Ở lab mình,
anh Vương và Thành đi theo hướng này. Khi làm postdoc, bạn sẽ tham gia vào làm
dự án với giáo sư ở các trường đại học. Công việc chủ yếu vẫn là làm nghiên cứu
như trong thời gian làm PhD. Trong thời gian làm PostDoc, bạn có thể mở rộng kết
nối cũng như có thêm publications để tìm việc tiếp theo. Thời gian làm postdoc
thì phụ thuộc vào dự án cũng như giáo sư. Thông tin về các vị trí postdoc có thể
tìm thấy trên rất nhiều trang tuyển dụng như Linkedin, JREC, Research Gate,
etc.
3. Researcher ở các viện nghiên cứu hay các công ty
Các viện nghiên cứu quốc gia như NICT, NII, JAIST cũng là
nơi mà bạn có thể apply xin việc vào sau khi tốt nghiệp. Anh Phúc là người đi
theo hướng này. Theo mình biết, thì các viện nghiên cứu cũng tuyển người theo dự
án từ 3-5 năm. Các viện nghiên cứu lớn thường sẽ tập trung vào các công nghệ
cho tương lai, chuẩn (standard), etc.
Các công ty công nghệ lớn như NTT, KDDI, Rakuten, Toshiba,
Yahoo Japan đều có các lab nghiên cứu cần tuyển tiến sỹ. Mục tiêu chính của các
lab này là phát triển công nghệ phục vụ cho công ty mẹ. Các dự án nghiên cứu vì vậy cũng khác hơn so với
ở các viện nghiên cứu quốc gia cũng như trong trường đại học. Trọng tâm là phát
triển các công nghệ để tạo lợi ích cho công ty, vì vậy việc có publications sẽ
khá hạn chế. Ngoài ra, bạn có thể sẽ phải làm việc trực tiếp với khách hàng và
cải thiện dịch vụ cho họ. Hiện tại, chỗ mình làm (KDDI Research Inc.) hoạt động
theo mô hình này. Tất nhiên là việc làm thiên về hướng nào sẽ phụ thuộc vào bộ
phận bạn xin vào nữa.
4. Engineer
Nếu các bạn muốn phát triển các sản phẩm thực tế thì có thể
xin tuyển vào các vị trí kỹ sư ở các công ty. Bạn có thể apply vào rất nhiều
công ty, từ mức start-up đến các tập đoàn lớn. Anh Hưng ở lab mình là người theo hướng này. Với mức độ phát triển công nghệ
nhanh như hiện nay, làm việc ở các công ty cũng là một môi trường rất lý tưởng
cho những người đam mê công nghệ. Các công ty công nghệ lớn ở Nhật như Line,
Yahoo Japan, hay Google Japan cũng đang cần tuyển những người có bằng PhD. Các
bạn có thể tìm kiếm thông tin tuyển dụng trên trang Linkedin.
Trên đây là bốn hướng nghề nghiệp chính cho các sinh viên
PhD sau khi tốt nghiệp. Về việc làm hồ sơ cũng như chọn công ty để apply thì
mình có một số lời khuyên như
- Gửi hồ sơ đến càng nhiều công ty càng tốt (Mình apply khoảng
~20 công ty). Theo kinh nghiệm của mình thì sẽ chỉ có một nửa các công ty xem
xét hồ sơ của bạn. Trong số đó, cũng sẽ chỉ có một nửa số cty gọi bạn đi phỏng
vấn. Và cuối cùng sẽ chỉ có 1-2 công ty offer jobs cho bạn.
- Bạn không nên quá quan trọng việc chọn job để apply, như
thế sẽ bỏ qua rất nhiều cơ hội. Nên mở rộng phạm vi tìm kiếm. Vì thông thường
công việc bạn làm sẽ không giống như những gì bạn làm trong thời gian làm PhD.
Chỉ cần có một chút liên quan là có thể apply được.
- Về hồ sơ tuyển dụng, bạn nên mô tả các kỹ năng (skills) của
mình một cách hợp lý. Tránh dùng các keywords trong academic papers J. Bạn nên tìm hiểu kỹ về
mô tả công việc mình chuẩn bị apply và điều chỉnh CV một cách phù hợp.
- Phỏng vấn là một trong những giai đoạn quan trọng nhất
trong quá trình tuyển dụng. Với các ứng viên là PhD, bạn sẽ được yêu cầu trình
bày 1) các kết quả nghiên cứu bạn đã làm và 2) hướng nghiên cứu trong tương
lai. Phần 1) là phần quan trọng hơn vì đây là nơi người phỏng vấn sẽ xem xét
năng lực trình bày vấn đề và communication skils của bạn. Thông thường, những
người phỏng vấn sẽ có rất ít kiến thức về vấn đề bạn đang làm. Nên điều quan trọng
là bạn phải giải thích được vấn đề một cách dễ hiểu, cũng như giải đáp thắc mắc
của người nghe một cách cẩn thận và đầy đủ.
- Về trang phục, bạn nên mua một bộ vest dành riêng cho đi
xin việc. Ở Aizu, bạn ra Aoyama là mua được ngay.
- Về các bài kiểm tra kỹ năng (thường là logic và
programming), bạn có thể lên các trang web online để luyện tập. Với các ứng
viên PhD, thường sẽ chỉ có phần kiểm tra logic.
- Về thời gian tuyển dụng, mùa tuyển dụng bắt đầu từ tháng 3
và kéo dài khoảng 5-6 tháng. Ngoài ra các công ty cũng đăng thông tin tuyển thường
xuyên trên các trang tuyển dụng. Cuối năm thứ 2 là thời điểm thích hợp để bạn
tìm hiểu và chuẩn bị cho quá trình xin việc.
Sunday, July 28, 2019
Giới thiệu về hài Nhật Bản
Phần lớn tiếng Nhật tôi học được là từ việc xem các chương trình Tivi, đặc biệt là các chương trình hài. Hồi mới sang Nhật, có một bạn sinh viên đến từ Srilanka hỏi tôi có biết ダウンタウン (Downtown) không. Tôi trả lời là không và được bạn kia cho biết đây là một nhóm hài nổi tiếng với các tiểu phẩm rất thú vị. Từ đó tôi bắt đầu lên YouTube tìm xem về hài Nhật Bản. Hồi đầu nghe thì gần như không hiểu gì nhưng thấy cách gây cười thì rất lạ, khi một người nói xong thì người còn lại đánh vào đầu người này và nói một câu gì đó, rồi khán giả cười nghiêng ngả. Tìm hiểu ra thì đây là một trong các cách diễn hài phổ biến nhất ở Nhật, được gọi là "Manzai". Một nhóm hài sẽ thường có hai người gọi là konbi (コンビ), một người được gọi là boke (ボケ) phụ trách nói những câu gây cười, người còn lại được gọi là Tsukomi (ツッコミ) phụ trách việc chỉ ra những lỗi sai, điều vô lý trong câu nói của boke.
Trong Manzai, các nghệ sĩ sẽ không sử dụng đạo cụ hay hóa trang, họ sẽ chỉ mặc vest, đứng trước micro và diễn trước mặt khán giả. Mỗi nhóm hài ở Nhật có một cách gây cười đặc trưng, và sẽ chỉ dùng cách này trong gần như tất cả các tiết mục. Một trong số đó là ナイツ, boke của nhóm này sẽ cố tình nói sai các từ và câu để gây cười. Trong tiểu phẩm [1], boke vào đề bằng việc cố tình nói nhầm câu "Nhìn tôi thế này nhưng rất thích karaoke"「私はこう見えても、カラオケが大好き。」 thành 「私は肛門見えても、。。」để gây cười vì cách phát âm rất giống nhau. Các nhóm hài sẽ không được phép sử dụng cách gây cười đặc trưng của nhóm khác. Mỗi tiết mục Mazai sẽ kéo dài 4-5 phút, những cũng có những thể loại ngắn hơn từ 2-3 phút. Hàng năm ở Nhật đều tổ chức một cuộc thi Manzai cho các nhóm hài tranh tài gọi là M-1グランプリ. Phần thưởng dành cho đội vô địch sẽ là 1000 man yên và một chương trình tivi riêng.
Một cách diễn hài phổ biến khác là Konto (コント), tức là các tiểu phẩm hài. Trong Konto, các nghệ sĩ hài sẽ hóa thân thành các nhân vật khác nhau trong một câu chuyện trong một bối cảnh nhất định. Cũng như Manzai, mỗi nhóm hài sẽ có một phong cách đặc trưng riêng. Một trong những nhóm mà tôi rất thích là アンジャッシュ với các tiểu phẩm 勘違いコント nơi hai nhân vật nói chuyện với nhau nhưng mỗi người đều hiểu nhầm cái người còn lại đang nói, nhưng vẫn ăn khớp để câu chuyện của mỗi người vẫn tiếp tục. Trong tiểu phẩm [2], một anh chàng đến phỏng vấn xin việc ở một cửa hàng đang ngồi trong phòng đợi. Cùng lúc đó, ông xếp của cửa hàng nhận được một cuộc điện thoại về việc có một tên ăn trộm ở cửa hàng bị bắt. Ông xếp bước vào phòng mà nghĩ rằng người đến phỏng vấn chính là tên trộm. Ông liên tục tra khảo anh chàng bằng những câu hỏi như: Đây là lần đầu tiên mày làm việc này phải không? Anh chàng thật thà trả lời là tôi đã từng làm việc này nhiều lần ở nhiều cửa hàng khác (:D), bởi vì nghĩ là ông này hỏi về kinh nghiệm làm việc. Tiểu phẩm cứ tiếp tục với liên tục những câu hỏi và câu trả lời của hai người hiểu nhầm nhau.
Ngoài Manzai và Konto, còn có nhiều thể loại hài khác như Oogiri (大喜利), Rakugo (落語), Monomane (物真似). Mỗi loại hình đều có những đặc trưng riêng sẽ được giới thiệu trong phần tiếp theo.
[1] https://www.youtube.com/watch?v=gafDcDSrmkk
[2] https://www.youtube.com/watch?v=HUr4J8kX4cI
Sunday, July 21, 2019
New conference paper (IEEE MMSP 2019): Scalable 360 Video Streaming using HTTP/2
My latest work on 360-degree video streaming over network has been accepted for presentation at IEEE MMSP 2019. This paper is a result of my collaborative research with Prof. Truong Thu Huong of HUST and Prof. Pham Ngoc Nam of Vin University.
Overview
360-degree video is a main content type in Virtual Reality, providing users with immersive viewing experience. In this paper, we propose a novel adaptation method for 360-degree video streaming over HTTP/2, which can provide high viewing experience to users under time-varying network conditions and time-varying user head movements. The proposed method utilizes Scalable Video Coding to solve the trade-off between network adaptivity and user adaptivity. An optimal tile layer selection
algorithm is provided. To cope with sudden throughput drops, the delivery of late layers are terminated using HTTP/2’s stream termination feature. Also, a tile layer updating scheme is proposed to deal with viewport estimation errors. Experimental results show that the proposed method can improve the average viewport bitrate by 16-17% compared to a reference method.
Key features
Overview
360-degree video is a main content type in Virtual Reality, providing users with immersive viewing experience. In this paper, we propose a novel adaptation method for 360-degree video streaming over HTTP/2, which can provide high viewing experience to users under time-varying network conditions and time-varying user head movements. The proposed method utilizes Scalable Video Coding to solve the trade-off between network adaptivity and user adaptivity. An optimal tile layer selection
algorithm is provided. To cope with sudden throughput drops, the delivery of late layers are terminated using HTTP/2’s stream termination feature. Also, a tile layer updating scheme is proposed to deal with viewport estimation errors. Experimental results show that the proposed method can improve the average viewport bitrate by 16-17% compared to a reference method.
Key features
- Scalable Video Coding (SVC) is utilized to tackle the trade-off between network adaptivity and viewport adaptivity.
- The tile layer selection problem is formulated and an efficient algorithm is proposed.
- A late tile layer termination scheme is presented that can save network resources by terminating the delivery of late tile layers using HTTP/2’s stream termination feature.
- A tile layer updating scheme that can effectively deal with viewport estimation errors is proposed. The scheme makes use of HTTP/2’s stream priority feature.
Future work
In future work, our goal is to further improve the user experience by providing both temporally and spatially smooth viewport quality.
Subscribe to:
Posts (Atom)
Lời nhắn gửi tân sinh viên
Phòng kí túc xá của cậu có 12 người đến từ nhiều nơi: Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Nghệ An. Ngày đầu tiên gặp các bạn cù...
-
Behavioral Targeting là gì? Chắc hẳn đã có nhiều lần bạn cảm thấy khó chịu và phải tắt các quảng cáo không phù hợp khi đang lướt web. Beh...
-
Giống như tất cả các công ty công nghệ lớn, Google rất chú trọng vào việc tuyển dụng và quản lý nguồn nhân lực. Quyển sách này được viết bở...
-
Phòng kí túc xá của cậu có 12 người đến từ nhiều nơi: Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Nghệ An. Ngày đầu tiên gặp các bạn cù...